Câu chuyện lịch sử chiếc bánh muffin

Ở phương Tây, nhất là tại Mỹ, khi nói đến cụm từ “đi cà-phê” hoặc “tiệc trà”, người ta thường liên tưởng ngay đến món bánh muffin. Bánh muffin – một số người gọi là “bánh cupcake lớn” – ra đời ở nước Mỹ vào thế kỷ XIX, nhưng nếu ngược dòng lịch sử thì […]

Ở phương Tây, nhất là tại Mỹ, khi nói đến cụm từ “đi cà-phê” hoặc “tiệc trà”, người ta thường liên tưởng ngay đến món bánh muffin. Bánh muffin – một số người gọi là “bánh cupcake lớn” – ra đời ở nước Mỹ vào thế kỷ XIX, nhưng nếu ngược dòng lịch sử thì loại muffin đầu tiên xuất hiện ở Anh quốc.

     Tại xứ sở sương mù, nơi mà thời tiết là đề tài nói chuyện hàng ngày của người dân, có một loại bánh muffin đã tồn tại hơn mười thế kỷ với tên gọi “English muffin” (muffin kiểu Anh), hoàn toàn khác hẳn chiếc bánh muffin “kiểu Mỹ” mà ta thường biết đến.

     “English muffin” là loại bánh được làm từ bột, sữa và men. Bánh cũng được lên men như bánh mì nhưng thay vì được nướng trong lò, “English muffin” được nướng trên vỉ. Bột nhào được nặn lại thành hình tròn, dẹp hai mặt, to cỡ bàn tay người lớn và được nướng đều hai mặt trên vỉ nướng. Để bánh được đẹp hơn, người ta sáng tạo ra loại vòng bằng kim loại để khi nướng, bánh có hình tròn đẹp. Và từ đây, cụm từ “muffin ring” (vòng muffin) ra đời và khởi nguồn cho món bánh muffin “kiểu Mỹ” sau này.

     Muffin ra đời ở Mỹ vào thế kỷ thứ XIX, người ta còn gọi là “bánh nửa ngọt” hoặc “bánh mì nhanh” vì muffin vốn không ngọt như các loại bánh khác và cách làm muffin cùng một loại với bánh mì gối, loại bánh mì nở nhờ bột nở, không chờ lên men như bánh mì cổ điển. Bánh muffin có hình dáng và cốt bánh như cupcake nhưng lớn hơn về hình dáng, ít ngọt hơn về vị và không có các loại đường trang trí trên mặt. Cũng khác với cupcake, muffin thường có nhân. Có thể là cả ngọt lẫn mặn, bằng chocolate, cà-rốt, dâu tây, mâm xôi, phúc bồn tử, táo, lê, các loại mứt… hoặc nhân mặn như thịt lợn muối, thịt lợn xông khói, trứng, rau chân vịt.

     Sở dĩ loại bánh này cũng có tên muffin như loại bánh của Anh vì bánh được tạo hình dáng dựa vào “vòng muffin”. Sau này người ta sáng tạo ra “muffin cup” (khuôn muffin đơn) có hình dạng như cái cóng trong ẩm thực Việt, có thể là kim loại hoặc silicone, hình ống, đáy nhỏ hơn miệng và còn có loại “muffin pan” (khuôn muffin) có thể nướng nhiều bánh cùng lúc.

     Muffin đã trở thành một phần của văn hóa cà-phê phương Tây, nhất là với văn hóa Mỹ. Ở nhà, người mẹ thường làm mẻ bánh muffin vào đầu ngày cho cả gia đình. Mặn hay ngọt, đều có thể trở thành món ăn sáng nhanh chóng như người Việt Nam ta ăn bánh mì. Muffin còn là món ăn để con trẻ mang đến trường ăn trưa hoặc trong hộp cơm của người đi làm, có thể là bữa trưa hoặc bữa nhẹ trong ngày.

     Các quán cà-phê vẫn thường có những mâm gỗ hay giỏ mây hoặc khay thủy tinh đầy ắp những chiếc bánh muffin mới ra lò thơm phức. Họ vẫn hay nướng muffin vào sáng mỗi ngày để bánh luôn được mới và ngon lành. Bánh muffin được hâm nóng, bên trên rắc một lớp đường bột trắng ngần, nhâm nhi cùng tách cà-phê sáng đã thành thói quen của biết bao thế hệ, từ người tóc bạc đến người tóc xanh.

     Nếu chán chê món muffin “kiểu Mỹ”, vẫn còn đó muffin “kiểu Anh” lạ miệng. Bánh cắt thành hai nửa, nướng vàng trên chảo, được bày cùng trứng trụng “poached egg” và sốt Hollandaise béo ngậy làm bằng lòng đỏ trứng gà và bơ. Khi dùng kèm với thịt muối, đó là món “Egg Benedict”, dùng kèm với rau chân vịt xào nhanh thì gọi là “Egg Florentine”.

     Muffin đơn giản, nhưng đã là một phần của văn hóa bánh phương Tây, cũng như bánh mì Pháp đã thành một phần của văn hóa ẩm thực Việt Nam vậy.

Alex Trần


Tin mới nhất

Bấm để xem thêm

loading...